Năm 1997, tấn sĩ (TS.) Nguyễn Đức Thái, Việt kiều Mỹ, được Chính phủ Mỹ cấp bằng phát minh cho kết quả nghiên cứu tìm được dị thể đầu tiên (được đặt tên TIGR, còn gọi là MYOC, GLCA1) cho bệnh tăng nhãn áp (glaucoma), căn do chính gây bệnh mù lòa. Cùng với hai nhóm nghiên cứu về tế bào học và di truyền học, TS. Thái đã nhận được giải thưởng Rudi Lewin 1998, giải thưởng cao nhất hằng năm của Mỹ về nghiên cứu nhãn khoa. Với thành quả này, ông đã được đài truyền hình CNN và một số tờ báo như The New York Times, American Press, Science, Nature, The Japan Times đưa tin và phỏng vấn. Cho đến nay, phát minh TIGR và các nghiên cứu sau đó đã được nhiều trường đại học và trọng tâm nghiên cứu nhãn khoa các nước ứng dụng trong chẩn đoán và trị liệu. Tháng 7 vừa qua, TS. Thái được mời về nước dự tư vấn thành lập trung tâm nghiên cứu sinh học (Biotech) tại Khu Công nghệ cao TP.HCM. Nhân dịp này, ông đã chia sẻ rất cởi mở với NCĐT một số ý kiến trong nghiên cứu và phát triển khoa học tại Việt Nam. Tại sao ông cho rằng trong nghiên cứu sản xuất vaccine, định hướng là quan trọng nhất?
TS. Nguyễn Đức Thái:Định hướng là nền móng của mọi chương trình khoa học. Trong sản xuất vaccine, sự định hướng sẽ tránh được việc sinh sản chồng chéo với các nước khác. Hiện các nước trên thế giới đều nhảy vào sản xuất vaccine A/H1N1 theo phương pháp truyền thống, Việt Nam nên làm gì? Kinh nghiệm từ quá khứ cho thấy, vaccine Việt Nam luôn bị cạnh tranh rất mạnh bởi các nước. Mới rồi, tôi có thảo luận với cựu Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang. Chị cho biết, chúng ta có kỹ thuật làm vaccine như các nước song lại bị cạnh tranh từ các nước Ấn Độ, Trung Quốc với giá rẻ hơn. Việt Nam cần khai triển vaccine theo định hướng riêng, có tính đặc hiệu cho từng vùng, mùa và không nên quá lệ thuộc vào các virus được cung cấp bởi Tổ chức Y tế Thế giới WHO. Thứ nữa, phải nghiên cứu vaccine thế hệ mới. Tuy có một số đang trong vòng thí nghiệm nhưng dòng vaccine mới này hiện đã có những kết quả lâm sàn hiệu quả. Đây cũng là động lực giúp Việt Nam xây dựng chương trình công nghệ vaccine đương đại nhằm tạo sản phẩm sinh vật học có tính áp dụng cao trong ngăn ngừa các bệnh dịch thường xảy ra tại Việt Nam. Nghiên cứu vaccine đời mới có những ưu điểm gì so với nghiên cứu vaccine truyền thống?
TS. Nguyễn Đức Thái:Ưu điểm là tính cấp thời, chuyển biến và tối ưu. Trong những thập niên vừa qua, quan điểm trong chế tác và sinh sản vaccine đã đổi thay nhiều theo diễn tiến các bệnh dịch từ AIDS, SARS, H5N1, Eboni, Mad-cow (bệnh bò điên) và nay là A/H1N1. Đặc biệt về dịch cúm, các vaccine phải có tính cấp thời bởi bệnh có thể xảy ra quanh năm. Việc chúng ta cần tiến hành là thiết lập kỹ thuật làm vaccine đời mới và ứng dụng tốt. Ngoại giả, cần có sự tham gia của doanh nghiệp có tư duy khoa học đủ rộng để ưng ý thử thách đầu tư và ứng dụng những cái mới đó vào ngành y tế Việt Nam. Thực tại, Việt Nam có nhiều lợi thế để sinh sản vaccine đời mới bởi môi trường, bệnh lý và khả năng vận dụng cao. Trong những lần về nước làm việc, theo ông, cái khó mà giới khoa học trong nước đang gặp phải là gì? Biện pháp nào để khắc phục những khó khăn này?
TS. Nguyễn Đức Thái:Khó khăn luôn hiện hữu trong các công trình nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Thực tại, ở Việt Nam hiện có nhiều nghiên cứu có tính ứng dụng cao đáng trân trọng như nghiên cứu tế bào gốc của GS. Phạm Xuân Ngọc, sản phẩm Biosimilars đạt chuẩn trị liệu FDA của TS. Hồ Nhơn, nghiên cứu chip của TS. Nguyễn Chánh Khê và Phạm Hùng Văn, công nghệ nhân văn của chị Cao Thị Bảo Vân, sinh sản cytokines của TS. Nguyễn Quốc Bình, virus gây nhiễm ở tôm của TS. Văn Thị Hạnh... Điều chúng ta quan hoài là việc tránh nghiên cứu chồng chéo và trùng lập. Việt Nam cần khai triển những phương pháp hữu hiệu hơn, có tính ứng dụng rộng và chuẩn xác trong chẩn đoán và trị liệu các bệnh do di truyền của gene hay môi trường. Tôi được biết một số cơ quan đã đặt mua thiết bị nhưng chưa dùng hết hiệu năng. Lý do là chưa quen cách tổ chức theo thứ tự: thiết kế chương trình, nhân sự và chung cục mới trang thiết bị. Chương trình nghiên cứu này không thể kiếm qua lý thuyết sách vở hay internet mà phải qua nghiên cứu và tiếp cận với những nghiên cứu mới luôn thay đổi liên tục trong cộng đồng khoa học thế giới. Và những việc tôi làm trước đây chỉ như con kiến tha từng mẩu kinh nghiệm về để phụ giúp cho khoa học trong nước. Vậy “con kiến” nay còn nối công việc “tha mồi” không?
TS. Nguyễn Đức Thái: (cười) Con kiến này tha từ năm 1994 đến khoảng năm 2002 là thay đổi phương pháp hiệp tác bởi khoa học trong nước từ năm đó bắt đầu có những nghiên cứu thành công, có tính vận dụng tốt. Tôi chỉ là một gạch nối giúp đưa về một số ý tưởng để từ đó các đồng nghiệp trong nước lựa chọn và bắt tay thực hiện. Theo ông, phát triển khoa học trong lĩnh vực y tế, chúng ta nên tham khảo mô hình của nước nào?
TS. Nguyễn Đức Thái:Nên tham khảo mô hình của Cuba. Trước tiên phải xây dựng những khu chẩn đoán, trị liệu áp dụng tối đa công nghệ sinh vật học để phục vụ gần 100 triệu dân trong nước trước, chưa nên nghĩ đến việc xuất khẩu bởi có thể gặp phải sự cạnh tranh mà ta chưa sẵn sàng để đáp ứng lại. Cuba có tỉ lệ trẻ lọt lòng tử vong thấp nhất thế giới nhờ những vaccine đặc hiệu tự chế. Một nước điển hình khác là Trung Quốc, cuối thập niên 1990, nhằm tránh cạnh tranh bộ gene người của Mỹ, Anh, Pháp và Nhật, họ hội tụ nghiên cứu và trở nên nhà nước trước hết công bố nghiên cứu thành công bộ gene của lúa. Nhật Bản cũng đáng để học tập. Hằng năm, họ vẫn dùng 30% ngân sách giáo dục để đào tạo và mời tài năng nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu. Ông có ý định mở phòng thể nghiệm hoặc làm điều gì đó gắn bó ở Việt Nam không?
TS. Nguyễn Đức Thái:Chúng tôi mong muốn hiệp tác và chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp trong nước mà không có ý định mở phòng thể nghiệm tại Việt Nam. Tôi rất quan hoài nghiên cứu với hãng SBI Biotech ở Nhật Bản chuyên về kháng thể đơn dòng và DC. Đây là hướng nghiên cứu đầu ngành của công nghệ sinh vật học đương đại và tôi tin, có thể vận dụng thiết thực cho chương trình Biotech ở Việt Nam. Trong năm nay, tôi về nước 2 lần để làm việc với Khu Công nghệ cao TP.HCM và luận bàn hiệp tác với một vài trung tâm khoa học khác. Nếu mọi sự hanh thông, đóng góp và làm việc tại quê nhà cũng là dự kiến và lựa chọn của tôi. Còn nếu chưa có cơ duyên, tôi vẫn dự tham vấn tương trợ từ xa, bởi đó luôn là niềm vui và phần thưởng ý thức từ quê hương. Tấn sĩ Nguyễn Đức Thái 1990-2004:Tốt nghiệp chuyên khoa Cao học Dược rồi làm tấn sĩ tại Đại học California, San Francisco (UCSF) và trở nên trưởng khoa chuyên khảo cứu bệnh tăng nhãn áp tại bộ môn nhãn khoa của UCSF. Ông cũng là cố vấn khoa học của một số hãng dược phẩm Mỹ. 2005-nay:Làm việc tại Hãng SBI Biotech (Tokyo, Nhật Bản). |
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét